top of page

DIỄN XUẤT CỦA THÀNH NGHỊ TRONG VAI TẠ HOÀI AN - TĨNH VÀ ĐỊNH

  • Ảnh của tác giả: Thành Nghị Filmseries Fanpage
    Thành Nghị Filmseries Fanpage
  • 30 thg 12, 2025
  • 17 phút đọc

(Đây là một bài bình rất hay, cũng rất dài, nếu bạn là một người thích đọc bài bình thì đừng bỏ lỡ)


Diễn xuất của Thành Nghị, tương thông với binh pháp của Tạ Hoài An


Trong 《Trường An 24 Kế》, để truyền tin, Tạ Hoài An nhét mảnh giấy viết kín chữ vào chính vết thương của mình. Mảnh giấy chậm rãi chìm vào máu thịt, nhưng ánh mắt anh vẫn tĩnh tại, không hề dao động dù chỉ một khắc.


Cảnh này có nguyên mẫu lịch sử. Thời Đường, cao tăng Ấn Độ Bát Thích Mật Đế quyết tâm truyền Kinh Lăng Nghiêm sang Trung Hoa. Nhưng bộ kinh này ở Ấn Độ được xem là quốc bảo, cấm mang ra ngoài; hễ đến biên giới là bị binh lính lục soát, tịch thu. Vì vậy, ngài đã “dùng chữ nhỏ như đầu ruồi chép kinh lên giấy sáp”, rồi tự rạch thịt cánh tay, giấu giấy sáp vào bên trong, cuối cùng vượt qua kiểm tra để đến được Trung Quốc.


Trước đây tôi không thể tưởng tượng nổi việc Bát Thích Mật Đế mổ thịt giấu kinh. Mãi đến khi nhìn thấy trạng thái của Tạ Hoài An, tôi mới lĩnh ngộ được: thân xác dĩ nhiên đau đớn tột cùng, cau mày là phản xạ bản năng do đau sinh ra. Nhưng chủ nhân của thân xác ấy không phải là đang gắng gượng chịu đau, sự tĩnh định của anh đến từ việc trái tim anh đã sớm đặt ở ngoài thân xác. Với anh, thân thể chỉ là một “khí cụ” để hoàn thành sứ mệnh; anh không bận tâm đến an lạc hay khổ sở của nó. Điều anh quan tâm là chúng sinh được thoát khổ.


Khi 《Trường An 24 Kế》 mới phát sóng, phần lớn khán giả đến vì một “bộ phim báo thù sảng khoái”, nghĩ rằng cùng lắm chỉ là xem một trận ân oán trả vay thống khoái. Đến giữa phim, cờ trên thành liên tục đổi chủ, tình hoài gia quốc tự nhiên dâng lên; đến gần hồi kết, mới chợt bàng hoàng nhận ra: bộ phim này thậm chí không dừng lại ở phạm trù “gia quốc”, mà còn phóng tầm nhìn ra giữa trời đất, thương xót mọi khổ đau của chúng sinh.


Tạ Hoài An nói: “Ta cũng là vì một miếng cơm manh áo mà sống.”

Cái gọi là “dân dĩ thực vi thiên” (lấy ăn làm đầu), vì tài nguyên sinh tồn mà các quốc gia trong thiên hạ công thủ lẫn nhau, “quá nhiều người chết đi mà chẳng ai biết họ là ai”. Kinh Phật miêu tả nỗi khổ nhân gian như sau: “Không ruộng thì lo ruộng, không nhà thì lo nhà; thân quyến tài vật, có hay không đều lo; thiếu một ít thì mong đủ, vừa có chút lại lo vô thường.”


Thiết Mạt — “thiết” là binh đao, “mạt” là cỏ khô nuôi ngựa chiến — là vùng đất khắc nghiệt nghèo lạnh, không có của cải dồi dào như Trường An, nên chỉ còn cách mưu đồ khởi binh cướp bóc. Còn Trường An, dù giàu có, cũng luôn lo sợ biến cố vô thường, đề phòng cường địch xâm phạm, không phút giây nào được an nhàn; Hổ Bôn Vệ của Lưu Tử Ôn chính vì thế mà được thành lập.


Tam Lược trong binh thư của Hoàng Thạch Công viết:

“Cốt yếu của việc dụng binh, trước hết phải xét tình địch. Xem kho tàng của nó, ước lượng lương thực, đo mạnh yếu, xét thiên thời địa lợi, tìm kẽ hở của nó.”


《Trường An 24 Kế》 bắt nguồn từ việc Lưu Tử Ôn phái Hổ Bôn trà trộn vào Thiết Mạt. Một nữ Hổ Bôn bị bắt, tiết lộ cơ mật quân sự, khiến quân đội do đại đệ tử của Lưu Tử Ôn là Ngôn Phượng Sơn chỉ huy bị vây trong một kho lương. Ngôn Phượng Sơn thoát chết trong gang tấc, tâm tính đại biến, về sau diệt sư, khống chế quân vương, trở thành một thế kiêu hùng.


Ngô Trọng Hành — người từ nữ Hổ Bôn dò được tình báo, xoay chuyển cục diện chiến tranh — được tôn làm Thiết Mạt Vương, từ đó được gợi mở, bắt đầu phát triển ám vệ, thậm chí tự mình xâm nhập Trường An. Hai mươi lăm năm sau, con trai Lưu Tử Ôn là Tạ Hoài An, cùng với Ngôn Phượng Sơn và Ngô Trọng Hành, chôn vùi tất cả trong biển lửa của kho lương, kết thúc đoạn nhân quả này.


Người chứng kiến sao có thể không thở dài: bi kịch của Tạ Hoài An, đâu chỉ là tai họa của một người, một gia đình? Giữa trời đất, khổ đau vốn tràn đầy, như hố lửa. “Trường An” là khát vọng đẹp đẽ và tha thiết nhất của chúng sinh, nhưng tiếc thay tam giới không nơi an ổn; dù chỉ là an lạc ngắn ngủi nhất, cũng phải dùng vô số sinh mạng để đánh đổi.


Kinh Lăng Nghiêm nói:

“Ngươi nợ ta mạng, ta trả ngươi nợ; vì nhân duyên ấy, trải trăm ngàn kiếp thường ở trong sinh tử… Chỉ cần ngươi không theo sự phân biệt của thế gian, nghiệp quả, chúng sinh — ba sự nối tiếp ấy; ba duyên dứt thì ba nhân không sinh… tánh cuồng tự lặng, lặng tức Bồ-đề.”


Tu hành chính là phải ngộ ra “phàm cái gì có tướng đều là hư vọng”, không còn xem thế giới, chúng sinh, nghiệp quả là thực hữu. Thiền tông dùng “đao giết người” làm ẩn dụ — chém đứt vọng tưởng, không còn phân biệt yêu ghét, lấy bỏ, từ đó tâm không trụ; rồi lại ngay cả trạng thái “tâm không trụ” ấy cũng không trụ, để cứu độ chúng sinh lìa khổ sinh tử, tùy duyên mà “sinh tâm”, nhập thế cứu nạn — ấy là “kiếm cứu người”.


Nhưng giữa muôn loài, người có thể dùng “đao giết người” để chém đứt phiền não thì ít ỏi vô cùng. Nhất là như Tạ Hoài An mang mối thù diệt môn, dù xét từ tình thân hay chuẩn mực đạo đức xã hội, anh cũng khó lòng buông bỏ.


Lễ Ký chép:

“Tử Hạ hỏi Khổng Tử: ở với kẻ thù của cha mẹ thì phải làm sao?

Phu Tử đáp: nằm trên gối gai, không ra làm quan, không cùng chung thiên hạ; gặp ở chợ hay triều đình thì không cần quay về lấy binh khí mà lập tức giao chiến.”


Theo giá trị phổ quát của thế gian, báo thù là nghĩa vụ tuyệt đối của con cái đối với cha mẹ; làm con thì thề không cùng tồn tại với kẻ thù, gặp kẻ thù thì phải chiến đấu ngay, thậm chí không cần về nhà lấy vũ khí. Dù phóng khoáng như Lý Liên Hoa trong Liên Hoa Lâu, có thể không chấp nhặt mọi tổn thương người khác gây ra cho mình, nhưng khi biết sư huynh chính là hung thủ giết sư phụ, vẫn phải ra tay thanh lý môn hộ.


Khi Tạ Hoài An nói cho Vương Phác biết bí mật thân thế của mình, Vương Phác — kẻ thực sự ác độc, lấy việc giả vờ lương thiện để lừa người và khoái cảm từ việc hành hạ, giết chóc làm niềm vui — vì không muốn cũng không đủ năng lực báo thù Ngôn Phượng Sơn, cuối cùng chỉ còn con đường tự sát.


Nhưng điểm hơn người của Tạ Hoài An là anh không để bản thân lạc lối trên con đường báo thù. Anh có thể dùng từ bi và chính nghĩa để đối trị sân hận.

Khi Vương Phác hỏi anh:

“Anh sống cả đời như vậy, có mệt không?”

Anh đáp:

“Cậu nên hỏi tôi, sống như vậy có đúng hay không. Tôi nghĩ mình là đúng. Các người đã giết quá nhiều kẻ không đáng chết, tôi không thể để các người thắng. Việc các người muốn làm, tôi cũng tuyệt đối không để thành.”


Kiếm khách Yagyū Munenori từng dung hợp Phật pháp vào binh pháp, lấy “đao giết người” và “kiếm cứu người” làm chương mục. Ông viết:

“Có lúc, sự bất nghĩa của một người có thể khiến vô số người chịu khổ. Trong trường hợp đó, giết một người đồng nghĩa với việc cứu sống hàng ngàn người. Chẳng phải đây chính là một ví dụ sống động cho "đao giết người chính là kiếm cứu người" sao?”


Tạ Hoài An muốn giết Ngôn Phượng Sơn, không chỉ vì y là hung thủ diệt môn nhà họ Lưu, mà còn vì y luôn coi mạng người như cỏ rác. Con đường Tạ Hoài An đi qua, tuy lấy “giết người” làm nguồn sức mạnh, nhưng trên thực tế mỗi bước đều là dốc hết tâm lực để “cứu người”. Anh không mong bất kỳ người vô tội nào phải chết, tìm mọi cách mở ra lối sống cho những kẻ bị dồn đến đường cùng, bảo vệ họ để họ được sống cuộc đời bình yên mà chính anh hằng khát khao trong tim nhưng không bao giờ có thể hưởng thụ. Với những kẻ từng tham gia mưu hại cha và em gái mình, anh không chỉ cố gắng khoan dung, mà còn thúc đẩy họ bước ra khỏi bóng tối, tiến về ánh sáng, thậm chí cùng anh bảo vệ muôn dân.


Tuy nhiên, Tạ Hoài An rốt cuộc vẫn là phàm nhân. Gánh nặng báo thù đè trên vai, anh không thể hoàn toàn thanh tịnh vô nhiễm. Khi mới vào Trường An, anh khoác áo trắng đi qua phố xá, bước vào hoàng thành; tuy dung mạo rực rỡ như ngọc, nhưng lại giống một khối băng cứng, ánh mắt lạnh lẽo thoáng qua khi ngẩng đầu khiến người khác phải e sợ.


Sau khi chiến thắng Ngôn Phượng Sơn, anh lại một lần nữa mặc áo trắng đi qua phố, bước vào hoàng thành. Tôi chợt nhận ra: dung mạo vẫn là dung mạo ấy, nhưng đẹp hơn trước rất nhiều — khối băng đã hóa thành mỹ ngọc, sự lạnh lẽo chuyển thành thanh khiết trầm tĩnh, khiến người nhìn kính trọng nhiều hơn sợ hãi. Khi ấy tôi từng đoán rằng đó là vì anh đã báo thù xong, trút được gánh nặng nên mới khác xưa. Nào ngờ, trong khoảnh khắc giết Ngôn Phượng Sơn, anh lại có thể dừng bước bên vực sâu: “Những điều đã qua, ví như ngày hôm qua đã chết; những điều về sau, ví như hôm nay mới sinh.” Chính điều đó tạo nên cảm giác như đã sang một kiếp khác.



Điều khiến tôi phải vỗ tay tán thưởng nhất trong diễn xuất của Thành Nghị, là anh có thể thể hiện sự nhiễm – tịnh trong nội tâm nhân vật, đồng thời tạo ra một khí trường độc nhất. Vì vậy, khán giả hiểu nhân vật anh xây dựng không chỉ bằng mắt thấy, mà còn bằng tâm cảm.


Khi Tạ Hoài An nói với Ngôn Phượng Sơn:

“Ngươi phải chết chậm một chút, như vậy mới đau hơn.”

Vẻ đáng sợ ấy khiến tôi lập tức hiểu được truyền thuyết về tôn giả Milarepa ở Tây Tạng: sau khi dùng tà thuật báo thù, “một đêm nọ soi gương, kinh hãi thấy quanh thân hiện ra ba mươi lăm luồng hắc khí, như rắn độc quấn chặt bảy luân xa” — đó là cảnh tượng khủng khiếp đến nhường nào.


May mắn thay, Tạ Hoài An thu tay sớm hơn Milarepa, không để bản thân vì sân hận mà rơi vào cảnh ma chướng nghiệp đen quấn thân. Tương truyền, tỳ-kheo Ưu-ba-tiên-na sau khi bị rắn độc cắn, cho đến lúc lâm chung vẫn không hề sinh tâm sân hận. Xá Lợi Phất ca ngợi ngài đã chứng được cảnh giới giải thoát, khen tụng trí tuệ tánh không của ngài rằng: “Dùng trí tuệ quán thế gian, như cỏ cây nhơ uế, không còn cầu thêm gì khác, mà cái khác cũng không nối tiếp.”


Nhưng như Milarepa từng nói:

“Tánh không là điều vô cùng vi tế, khó hiểu, khó tin.”

Tạ Hoài An không phải người đã triệt ngộ tánh không. Việc anh có thể toàn thân rút lui ngay trước ngưỡng nhập ma, phần lớn là vì anh kiên tín nhân quả. Milarepa từng giải thích rằng sở dĩ cuối cùng có thể tiêu trừ nghiệp đen, tu chứng đắc đạo, chính là nhờ tin sâu nhân quả: “Tánh không không rời nhân quả, chính từ nhân quả mà hiển lộ tánh không… Lúc đầu ta không hiểu tánh không, nhưng lại có niềm tin vững chắc vào nhân quả, biết tạo đại ác nghiệp sẽ đọa ác đạo nên trong lòng sinh sợ hãi… Căn bản của mọi pháp chính là tin nhân quả, nỗ lực làm thiện, tránh ác.”


Từ những lời rải rác trong phim có thể thấy, trong thuật dụng binh, người coi trọng “tánh không” nhất lại chính là Ngôn Phượng Sơn.

Y nhấn mạnh: “Thắng bại là chuyện thường của binh gia, kẻ quá nặng được mất thì không thể làm tướng.”

Với Dương Trữ Hào — người từng âm thầm giúp Tạ Hoài An — y nói:

“Ta không vui vì cái chết của hắn, nhưng hắn nhất định phải chết…”


Bề ngoài, y dường như đã nắm được tinh yếu của “đao giết người” trong việc đoạn trừ phân biệt tâm, nhưng thực chất chấp ngã của y cực nặng: y chưa bao giờ bước ra khỏi “kho lương”, luôn cho rằng chỉ khi giết sạch tất cả thì bản thân mới có thể sống. Người như vậy, đừng nói chuyển “đao giết người” thành “kiếm cứu người”, ngay cả “đao giết người” cũng không thể thật sự nắm giữ. Sự hoài niệm của y đối với Vương Phác rất giống sự hoài niệm của Chu Phác Viên dành cho Thị Bình trong vở kịch Lôi Vũ — nói là yêu, chi bằng nói là một thứ tự cảm động không dứt bỏ được.


So sánh như vậy, ưu thế lớn nhất của Tạ Hoài An chính là chấp ngã không sâu, tinh thần luôn giữ được một phần tự do của trạng thái “không trụ”.

Binh pháp Tôn Tử nói: “Binh vô thường thế, thủy vô thường hình.”

Còn Yagyū Munenori trong Binh pháp gia truyền thư mô tả một cảnh giới bất bại: “trăng trong nước”.


Trăng soi xuống nước, trông như trăng đang ở trong nước, nhưng thực ra trăng chưa từng trụ lại nơi đó. Tình cảm Tạ Hoài An dành cho em gái là thật — giống như bóng trăng và trăng trên trời vốn không hai, nếu không thì anh đã không thể lừa được Ngôn Phượng Sơn. Nhưng khi Ngôn Phượng Sơn tưởng rằng mình đã đánh trúng nhược điểm của Tạ Hoài An, thứ y tấn công chỉ là bóng trăng trong nước, hoàn toàn không thể làm gì được vầng trăng thật trên trời đang ở trong cảnh giới siêu nhiên. Y càng dốc sức công kích, càng tự để lộ sơ hở.


Ai cũng nói cảnh Thành Nghị đóng Tạ Hoài An giả điên dụ Ngôn Phượng Sơn sa bẫy là đỉnh cao tuyệt diệu. Tôi cho rằng then chốt nằm ở chỗ anh nắm được tinh túy của “thủy nguyệt”: Sự điên loạn toàn tâm toàn ý thì nhiều diễn viên có thể diễn rất giống, nhưng chỉ riêng Thành Nghị, khi diễn Tạ Hoài An, đã diễn ra được bóng trăng in xuống nước.


Mọi cuồng loạn đều do sóng nước dậy lên, còn chân tâm của nhân vật khi đối diện kẻ thù — lại là vầng trăng trên trời — tĩnh và định.


Thành Nghị diễn Tạ Hoài An hay, bởi vì diễn xuất của anh và binh pháp của Tạ Hoài An là tương thông. Việc đời tuy rối rắm muôn hình, nhưng ở tầng cao nhất, vạn pháp vốn quy về một mối.


Bạch Cư Dị từng viết trong "Động tĩnh giao tương dưỡng phú":

“Đạo không thể mãi tĩnh, cần lấy động để trợ;

Tĩnh không thể mãi động, cần lấy tĩnh để điều.”


Đạo dụng binh là như vậy, mà việc diễn xuất của diễn viên cũng không ra ngoài đạo ấy.


Trong Trường An 24 Kế, tình tiết em gái Tạ Hoài An bị giết nhầm rất giống với cảnh trong vở opera Rigoletto của Verdi: Rigoletto định giết Công tước để báo thù, nhưng cuối cùng phát hiện người bị giết lại chính là con gái mình. Trên sân khấu, Rigoletto ở đoạn này phô diễn trọn vẹn chữ “động”: kinh hoàng kêu gào, khóc lóc thảm thiết, lắc xác người chết, ngửa mặt than trời: “Không thể nào! Đây chỉ là ảo giác trêu đùa ta! Con ơi, con nói đi! Bảo vật duy nhất trên đời của ta, con nhìn ta một lần đi! Nếu con rời bỏ ta, cuộc sống cô độc này còn ý nghĩa gì, chi bằng cùng con chết đi!”


Nghệ thuật sân khấu khác với điện ảnh, opera diễn như vậy không có gì sai. Cái đáng nói là rất nhiều diễn viên phim ảnh ngày nay, bất kể nhân vật thân phận ra sao, gặp loại tình tiết này đều máy móc rập khuôn cách thể hiện ấy. Nếu Bạch Cư Dị thấy cảnh này, e rằng cũng phải thở dài: “Than ôi! Người đời nay chỉ biết động thì có thể thành công, mà không biết rằng không đúng lúc thì động cũng hóa hung.”


Còn Thành Nghị khi diễn đoạn này, lại lấy tĩnh để chế động. Anh lặng lẽ ôm em gái vào lòng, dường như trời đất vạn vật đều cùng trái tim anh chìm vào yên lặng. Nhưng khán giả lại cảm nhận rất rõ: đến linh hồn anh cũng đau đến run rẩy. Mỗi nhịp thở của anh không còn là không khí ra vào, mà như đao kiếm xuyên qua thân thể.


Tương tự như vậy, khi Thành Nghị diễn Tạ Hoài An pha trà đọc sách — vốn là khoảnh khắc tĩnh lặng nhất — lại hiện ra một nhịp điệu tự nhiên như mây trôi nước chảy. Đó vừa là sự tao nhã ung dung trong cốt cách Tạ Hoài An, vừa là cảnh giới cao diệu của một mưu sĩ thượng thừa ở trạng thái “không trụ”. Ngô Trọng Hành, khi ấy đang nắm thế thượng phong, nhìn thấy cảnh tượng đẹp như tranh ấy, lại không khỏi sinh cảm giác như đối diện đại địch. Bởi Tạ Hoài An cũng giống như một họa gia bậc nhất: “Bút không chỗ định, ý không nơi dừng, viết xong mà cảnh cũng không cố định.”


Trong mắt binh gia, đó mới là đối thủ đáng sợ nhất. Ở trạng thái tĩnh định, anh có thể tùy thời “tùy địch mà biến, không bị sự việc trói buộc, động là lập tức thuận theo”.


Điểm yếu của Ngô Trọng Hành nằm ở tâm phân biệt giữa nô lệ và chủ nô. Hắn không ngừng nhớ đến nỗi đau khi còn là nô lệ; đến khi thoát khỏi thân phận ấy và trở thành kẻ thống trị, lại cuồng vọng muốn cả thiên hạ đều làm nô lệ cho mình. Trong phim liên tục xuất hiện cảnh hắn diễn quẻ trong ngục Ngự Long Lĩnh — điều này không chỉ mượn điển tích “Văn Vương bị giam mà diễn Chu Dịch” để ẩn dụ thân phận vương giả của hắn, mà còn nói rõ với khán giả: hắn, giống Văn Vương, sẽ tranh đoạt quyền lực với trung tâm đầu não của Thiết Mạt, và muốn biến cả những người trong tế đàn thành nô lệ của mình.


Ngô Trọng Hành say sưa trong thành tựu từ thân phận nô lệ một bước lên thay thế chủ nô. Trái lại, Tạ Hoài An không có tâm phân biệt sang hèn cao thấp. Anh có thể để một người từng là hoàng đế làm thư đồng cho mình, cũng có thể coi những tiểu lại nơi huyện xa như huynh đệ. Anh cố ý thuận theo sở thích của Ngô Trọng Hành, nói rằng mình từng ở Hoài Nam đập kho lương cứu dân nghèo. Nhưng thực tế, ngay từ đầu phim đã có cảnh dân Hoài Nam trong mùa thu hoạch, vui vẻ bận rộn ngoài đồng ruộng. Những nha dịch vốn hay “tiếp tay cho hổ” ở nơi khác, tại đây lại tự cho rằng nhiệm vụ của mình chỉ là “lợp mái cho bà con, bắt gà giúp làng”. Có thể thấy, khi Tạ Hoài An làm chủ bạ ở Hoài Nam, anh đã sớm thi thố tài năng một cách thành thạo, khiến Hoài Nam trở thành nơi trên dưới hòa thuận, chính sự thông suốt. Chỉ trong bảy năm ngắn ngủi đã có bốn vị huyện lệnh được thăng chức nhờ sự phụ tá của anh — ai cũng biết công trạng của mình không thể tách rời Tạ Hoài An, lúc rời đi đều muốn mang anh theo. Cách làm ấy cao minh hơn rất nhiều so với những thủ đoạn kích động đối lập như đập kho lương.


Những lời của Tạ Hoài An đã khơi dậy trong Ngô Trọng Hành ký ức về chiến công năm xưa. Kinh nói: “Tâm quá khứ không thể được”; tu hành như vậy, mưu binh tính sự cũng vậy. Ngô Trọng Hành đắm chìm trong ký ức cùng Sầm Vĩ Tông năm xưa mà nhất thời lơ là, cuối cùng bị dụ vào kho lương và không thể thoát thân.


Trước lúc lâm chung, Tạ Hoài An vẫn tự nhủ rằng tâm nguyện ban đầu của cha mình — Lưu Tử Ôn — khi lập ra Hổ Bôn Vệ là bảo vệ Trường An. Lúc mới xem phim, tôi chỉ cho rằng Lưu Tử Ôn vì do dự mà mất tiên cơ, dẫn đến diệt môn, xa không bằng con trai mình. Cho đến khi nghe Tạ Hoài An kể việc cha bảo anh đến núi Vu Hỉ, nói rằng trong một căn nhà đá dưới chân núi có hài cốt của hai đứa trẻ, tôi mới chợt tỉnh ngộ: thì ra Lưu Tử Ôn biết tất cả.


Binh pháp Tôn Tử, thiên cuối cùng, đoạn cuối viết:

“Xưa nhà Ân hưng thịnh, Y Doãn ở nhà Hạ; nhà Chu hưng thịnh, Lã Nha ở nhà Ân. Vì thế, chỉ minh quân hiền tướng mới có thể dùng trí tuệ thượng thừa làm gián điệp, tất sẽ lập đại công.”


Lưu Tử Ôn là thủ lĩnh Hổ Bôn, đương nhiên thấu hiểu đạo này. Ông biết Chúc Chi Long đến từ Thiết Mạt, thậm chí biết lai lịch của Sầm Vĩ Tông và Ngô Trọng Hành. Biến cố xảy ra, ông vội vàng bày cục: bảo toàn Sầm Vĩ Tông, dùng Ngôn Phượng Sơn kiềm chế Ngô Trọng Hành, rồi mượn Chúc Chi Long — thuộc hạ của Ngô Trọng Hành — để giúp Tạ Hoài An đánh bại Ngôn Phượng Sơn. Khi Ngôn Phượng Sơn thất thế, Ngô Trọng Hành trỗi dậy lần nữa, lại dùng Sầm Vĩ Tông — kẻ ngầm thông tế đàn nhưng không cùng đường với Ngô Trọng Hành để đối kháng.


Có lẽ vì khi ấy Tạ Hoài An còn nhỏ, tâm cơ chưa sâu, Lưu Tử Ôn chưa thể trực tiếp nói cho anh biết thân phận Chúc Chi Long; nếu không, anh khó giữ bình tĩnh mà còn có thể tự chuốc họa. Nhưng khi anh tuân theo di ngôn của cha đến Thiết Mạt, hiểu được quá khứ của Thiết Mạt Vương, rồi đến lúc đại quân Thiết Mạt nam hạ, với sự thông tuệ của mình, mọi chuyện đã không cần nói cũng rõ. Từ đó anh hiểu ra: thân phận thật sự của mình là một Hổ Bôn bảo vệ Trường An, lấy dáng vẻ kẻ báo thù làm vỏ bọc, mang tên giả Tạ Hoài An.


Cùng với vụ nổ dữ dội của kho lương, Tạ Hoài An chọn cách cùng kẻ địch đồng quy vu tận để kết thúc sứ mệnh của mình, và cuối cùng đạt được giải thoát. Thân xác tiêu tan, hoa bỉ ngạn nở rộ, linh hồn rốt cuộc được tự do. Anh không vướng không ngại, băng qua con đường trần thế, trở về quê hương không còn khổ đau mà chỉ còn an lạc, khôi phục diện mạo thuở ban đầu:


“Đường trần khe núi mặc người lưu luyến,

Phong nguyệt quê nhà ai tranh cùng ta?”


Nhiều bạn bè quanh tôi không thích phần ngoại truyện, cho rằng chỉ là vẽ rắn thêm chân để chuẩn bị cho mùa hai. Nhưng đổi góc nhìn khác, chẳng phải đó chính là một cách dùng ẩn dụ để khiến khán giả càng trân trọng hơn cái kết viên mãn — Tạ Hoài An rời khỏi bể khổ — hay sao? Nếu anh còn ở lại cõi tục, thì cũng chẳng khác nào vẫn bị giam trong ngục. Cõi tục như bàn cờ, sinh tử luân hồi, âm dương xoay chuyển, vốn không có “Trường An” thật sự; thịnh thế qua đi ắt có loạn thế. Một khi loạn thế lại đến, sẽ lại như binh thư nói:


“Không có mưu kế thì không thể quyết nghi định ngờ;

Không có kỳ trá thì không thể phá gian dẹp giặc;

Không có âm mưu thì không thể thành công.”


Lại cần những người như Tạ Hoài An xuất thế, cần khổ bảo hộ chúng sinh.


Nhìn lại tập đầu tiên của Trường An 24 Kế, bài văn Tạ Hoài An viết:

“Có thời thế phi thường, chính sự bế tắc, dân sinh lầm than, rồi mới sinh ra người phi thường, biến đổi như báo hóa, vùng dậy như chim ác là. Lấy thế tung hoành của đại bàng mà đúc nên sự nghiệp phi thường. Vì thế, công lao phi thường ắt phải đợi người phi thường.”


Đọc thì khí thế hùng tráng, nhưng “phi thường” từ đâu mà đến?

Từ vô thường!


Giống như một căn nhà đang bốc cháy, bất cứ lúc nào cũng có thể sụp đổ, chôn vùi con người trong biển lửa. “Công lao phi thường” của những anh hùng cứu người trong biển lửa ấy, rốt cuộc cũng chỉ sinh ra từ nỗi khổ vô thường.


Phật kinh nói:

“Tam giới không an, như hố lửa, các khổ đầy dẫy, vô cùng đáng sợ.”


Tạ Hoài An — không, Lưu Tri — chúc mừng ngươi đã thoát khỏi hố lửa mà đi!


Trans: Suteki Dane


---Bài dịch/viết này thuộc về Thành Nghị Filmseries Fanpage---

~Cảm ơn bạn đã đọc~

Bình luận


Trang web này được thành lập bởi Thành Nghị Filmseries Fanpage.

 

Trang web này được tạo ra không vì mục đích thương mại, thông tin trong trang web này được tổng hợp từ nhiều nguồn, một số bài dịch và bài bình phim là thuộc quyền sở hữu của Thành Nghị Filmseries Fanpage và QiYiStar.

bottom of page